Quần áo

Quần áo

5 thg 11, 2009

Dinh Dưỡng cho bé - Làm gì khi bé chậm tăng cân?



Đó là thắc mắc hay được "lặp lại" nhất ở các phòng khám dinh dưỡng trẻ em. Nhiều khi cân, đo so với tuổi thì phát hiện là bé đã "trên trung bình" rất nhiều rồi... mà cha mẹ vẫn cứ thấy là sao tháng này cháu không lên được "lạng" nào, biếng ăn quá?

Bác sĩ phải trấn an là không cần nhồi nhét nữa, từ 12 tháng tuổi trở lên, bé sẽ tăng cân chậm lại, mỗi tháng chỉ tăng có 200g thôi. Hơn nữa:

Khi bệnh (sốt, viêm họng, lở miệng hay đau răng...), trẻ có thể biếng ăn, bạn nên cho bé ăn thức ăn lỏng, dễ nuốt như: sữa, cháo, súp, yaourt,... thậm chí cho ăn kem cũng được.

Bé sẽ ăn ngon bằng vị giác, bằng tai, bằng mắt, khi được bốc, đưa lên miệng lưỡi. Khi có răng thì cần tạo điều kiện cho bé tập nhai. Có nhai mới tiết ra nước miếng, ăn càng ngon thêm.

Bao tử trẻ còn nhỏ, mỗi bữa bạn chỉ nên cho cháu ăn từ 1/2 cho đến 1 chén (khoảng 200ml), chỉ nên cho ăn từng lượng nhỏ, trông đỡ ngán. Thức ăn cần trông "ngon mắt" để bé cảm thấy "muốn nhai".

Sữa mẹ mấy tháng đầu chỉ cho 67kcal/100ml và chỉ đáp ứng đủ nhu cầu tăng trưởng của bé từ 0-6 tháng. Vì vậy từ 6 tháng cần cho cháu ăn dặm thêm bột gồm 4 nhóm: thịt cá, rau, dầu, tinh bột. Dầu bổ sung vào bột sẽ bảo đảm việc cung cấp đủ nhu cầu năng lượng của bé. Bước đầu nên tập cho bé quen với dạng sệt của thức ăn nghiền nhuyễn. Khi có nhiều răng, bé có thể ăn đặc hơn: 9 tháng với 2-3 răng, nên bạn có thể xay nhỏ thức ăn như rau, thịt, cá...; đến tuổi lên 2, lên 3 đủ 20 răng sữa thì nên cắt "hạt lựu" các thức ăn để tập nhai.

Tính đa dạng cũng rất cần để tránh chán ăn: trẻ em dễ chấp nhận ăn riêng từng thức ăn như: trái cây, bánh quy, yaourt, cháo,... nhưng chóng chán những hỗn hợp thức ăn.

Khuyến khích tính chủ động trong ăn uống: thay vì "kè kè" theo sau bé để đút, nên bày cho bé trò "tự xúc ăn" xem bàn tay bé có khéo cầm muỗng, hàm bé nhai có giống bố, mẹ không? Khi bé làm được điều gì tốt bạn nhớ khen, bé sẽ rất thích, trở nên tự tin và tiếp tục thực hiện, thành thói quen.

Muốn bé mau tăng cân nên đáp ứng 3 nhu cầu chính yếu: ăn, ngủ, vận động - bổ sung cho nhau chứ không thay thế nhau.

Bạn cũng cần tạo điều kiện cho bé chơi, vận động ngoài trời ít nhất 30 phút mỗi ngày. Sẽ chẳng có bé nào đến bữa lại không đói, đến giấc lại không ngủ nếu bé được vận động đầy đủ. Ăn được ngủ được chắc chắn cháu sẽ lên cân "đều đều".

Nhãn:

2 thg 11, 2009

Dinh Dưỡng cho bé - Sự kỳ diệu của sữa non – Nguồn dinh dưỡng quý giá cho trẻ nhỏ


Bé của tôi hiện đang dùng sữa Star Science Gold số 4, tôi đọc trên bảng thành phần dinh dưỡng thấy có một số chất đặc biệt có trong sữa non, được ghi rõ như: sIgA 15 mg, IgG 130 mg ... Xin hỏi đây là những chất gì? Có tác dụng như thế nào?

Đỗ Thị Hồng Mai

5/4 Đường số 8, Khu phố 2, P Hiệp Bình Chánh, Thủ Đức, TP Hồ Chí Minh

Trả lời

Tôi rất mừng vì càng ngày các bà mẹ của chúng ta càng thể hiện được trình độ nhận thức của mình trong việc chọn lựa các sản phẩm dinh dưỡng cho bé thông qua việc đọc và so sánh những thành phần đặc hữu của các loại sữa trước khi quyết định cho bé sử dụng.

Tôi xin giải thích câu hỏi của chị như sau:

sIgA 15 mg, IgG 130 mg ... là những kháng thể đặc biệt (hay còn gọi là globulin), đóng vai trò rất quan trọng trong hệ thống miễn dịch để chống lại các tác nhân gây nhiễm trùng, nhiễm virus

sIgA là loại kháng thể bền vững trong môi trường acid của dịch vị và các men thủy giải của dịch tiết... sIgA chống lại sự xâm nhập của vi khuẩn qua đường niêm mạc, ví dụ: nhiễm trùng tiêu hóa, nhiễm trùng tiết niệu sinh dục, ... sIgA có vai trò đặc biệt trong việc ngăn cản sự bám dính của các vi khuẩn lậu cầu, phế cầu, virus cúm, ... Mặc dù có vai trò quan trọng như vậy, nhưng sIgA có rất ít ở trẻ sơ sinh, khoảng 1 – 5 mg% trong máu dây rốn, sau đó tăng rất chậm. Rất may mắn là sIgA lại là kháng thể chủ yếu trong sữa non của mẹ. Sữa non là loại sữa mẹ được tiết trong vòng tuần đầu sau sinh. Vì vậy, nên cho con bú sữa mẹ sớm ngay trong 1 giờ đầu sau sinh.

IgG là loại kháng thể chiếm đa số trong huyết thanh, có thời gian bán hủy rất dài, nên kháng thể này đóng vai trò chủ yếu trong miễn dịch dịch thể của cơ thể. IgG có khả năng trung hòa ngoại độc tố của vi khuẩn, giúp cơ thể đề kháng lại các vi khuẩn gây bệnh như vi khuẩn bạch hầu, uốn ván, IgG có khả năng lôi kéo và kích hoạt dòng thác bổ thể và tăng cường hiệu quả sinh học của chúng nhưng lại có giá trị bổ sung các yếu tố miễn dịch dịch thể cho trẻ trong năm đầu để chống đỡ vi khuẩn và virus.

Đây là một trong các minh chứng giải thích được vì sao cần phải cho bé bú mẹ càng sớm càng tốt sau khi sinh, tạo điều kiện cho bé sử dụng được nguồn sữa non quý giá của mẹ và sữa mẹ luôn luôn là thức ăn tốt nhất cho sự phát triển của trẻ. Nếu vì một lý do nào đó khiến người mẹ không thể nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ, việc lựa chọn những sản phẩm có sự bổ sung của 2 dưỡng chất sIgA với IgG sẽ hỗ trợ cho hệ thống miễn dịch còn non yếu của trẻ, ngoài ra còn có TGF, IGF, EGF, là những yếu tố tăng trưởng giúp trẻ phát triển ngay từ đầu. Nếu chị đã tìm ra được loại sữa có chứa 5 thành phần dưỡng chất trên, chị hãy yên tâm cho bé sử dụng.

Tôi cũng mong rằng các bà mẹ của chúng ta hãy dành một chút ít thời gian để đọc kỹ và so sánh những thông tin về giá trị dinh dưỡng đã được các nhà sản xuất ghi trên lon sữa, sau đó hãy quyết định lựa chọn sản phẩm tốt nhất cho con yêu của mình.

Chúc chị và bé luôn mạnh khỏe!

PGS-TS Nguyễn Thị Lâm

Phó Viện trưởng Viện Dinh Dưỡng Quốc gia





Nhãn:

26 thg 10, 2009

Dinh Dưỡng cho bé - Có nên cho trẻ uống sữa thay cơm?



Con gái tôi được 4 tuổi nhưng cháu rất lười ăn cơm, cháu chỉ uống sữa. Xin hỏi bác sĩ như thế có tốt không? Có cách nào để cháu có hứng thú ăn cơm không?
Phạm Thị Nga (Hà Nội)
Sau sữa mẹ, sữa động vật (bò, trâu, dê...) là một trong những thực phẩm có nhiều chất dinh dưỡng cần thiết và cân đối, dễ tiêu hóa và hấp thu. Chính vì vậy, sữa là thực phẩm cần thiết cho mọi lứa tuổi. Tuy nhiên, sữa không thể thay thế thức ăn khác. Thứ nhất, sữa thường đắt, làm tăng gánh nặng kinh tế của gia đình. Thêm vào đó, thực phẩm hằng ngày còn cung cấp một lượng lớn chất xơ (giúp phòng chống táo bón và bệnh mạn tính sau này), chất chống ôxy hóa (vitamin C, E, caroten, selen) mà sữa thường không thể cung cấp đủ. Con chị 4 tuổi cần ăn 3 bữa chính (sáng, trưa, tối). Ngoài ra uống thêm sữa hoặc nước quả xen kẽ các bữa ăn. Mỗi bữa ăn cần có đủ các thành phần như đường bột (gạo, ngô, khoai, sắn), chất đạm (thịt, tôm, trứng, đậu đỗ, lạc vừng), chất béo (dầu, mỡ), vitamin và muối khoáng (rau và quả). Cách cho trẻ ăn cũng rất quan trọng. Nhiều khi do cho trẻ uống sữa quá gần bữa ăn nên trẻ no bụng không chịu ăn cơm. Hơn nữa, ở độ tuổi này, nên cho cháu ngồi ăn cơm cùng gia đình. Do trẻ rất thích bắt chước bố mẹ, nên sẽ thử những thức ăn mới khi thấy bố mẹ ăn. Trẻ cũng rất dễ bị phân tán, nên khi cho trẻ ăn, cần tắt TV, băng đĩa và các trò chơi máy tính. Cũng nên cho các cháu cùng độ tuổi ăn với nhau. Nhiều khi tâm lý ganh đua hoặc cảm giác vui vẻ khi có bạn bè giúp cháu ăn được nhiều hơn. Bạn cũng cần theo dõi biểu đồ tăng trưởng để xem cân nặng của con bạn có nằm trong ngưỡng bình thường không, và diễn biễn cân nặng thế nào. Đôi khi, vì tưởng con mình gầy quá, nhiều bậc cha mẹ ép con mình ăn quá nhiều dẫn tới biểu hiện thừa cân và béo phì gây ảnh hưởng xấu tới sức khỏe của trẻ.




Nhãn:

22 thg 10, 2009

Dinh Dưỡng cho bé - Phòng ngừa còi xương - Cách gì?



Còi xương (CX) là bệnh loạn dưỡng xương do thiếu vitamin D hoặc do rối loạn chuyển hóa vitamin D trong cơ thể. Là bệnh hay gặp ở trẻ nhỏ, nhất là trẻ dưới 1 tuổi. Tỷ lệ CX ở trẻ dưới 3 tuổi ở nước ta là 9,4% (theo Bệnh viện Nhi Trung ương).

Theo số liệu thống kê tại Trung tâm Khám tư vấn Viện Dinh dưỡng năm 2007 thì bệnh còi xương là bệnh hay gặp nhất tại trung tâm, chiếm tới gần một nửa số trẻ, đạt tỷ lệ 45,5%, đáng lo là bệnh còi xương có xu hướng không giảm qua nhiều năm theo số liệu thống kê từ năm 2003 tại trung tâm và thậm chí năm 2007 còn đạt tỷ lệ cao hơn những năm trước.

Vậy chúng ta hãy cùng tìm hiểu nguyên nhân tại sao bệnh còi xương do thiếu vitamin D lại vẫn tồn tại qua nhiều năm nay và có xu hướng tăng lên?

Nguồn vitamin D của con người

Có 2 nguồn: ngoại sinh và nội sinh

Ngoại sinh: từ thức ăn. Nguồn này chỉ cung cấp rất ít vitamin D, khoảng 20-40UI/ngày (10UI/1 lít sữa bò, < 50 UI/lít sữa mẹ). Từ đó cho thấy nồng độ vitamin D trong sữa mẹ cao hơn hẳn và cũng dễ hấp thu hơn sữa bò, vì vậy tỷ lệ trẻ còi xương ở trẻ bú mẹ thấp hơn hẳn trẻ bú sữa ngoài.

Nội sinh: Khi da được tiếp xúc với tia cực tím, ví dụ ánh sáng mặt trời thì 7-dehydro cholesterol ở trong da sẽ chuyển đổi thành vitamin D3.

Nguyên nhân còi xương

Phòng bệnh còi xương
Với mẹ: Nên phòng từ khi có thai bằng cách: mẹ nên tiếp xúc ánh nắng hằng ngày.
Ở 3 tháng cuối cùng của thời kỳ thai nghén, người mẹ nên bổ sung vitamin D liều 1.000-1.200UI/ngày hoặc một lần duy nhất 100.000-200.000UI từ tháng thứ bảy, nếu mẹ không có điều kiện tiếp xúc với ánh nắng mặt trời.
Với con:
Ăn uống: tốt nhất là bú mẹ. Sau giai đoạn cai sữa vẫn tiếp tục uống sữa công thức tối thiểu 300ml/ngày. Khi ăn dặm phải tra đủ dầu/mỡ vào các bữa ăn dặm để bảo đảm đủ chất béo làm dung môi hấp thu vitamin D.
Tắm nắng, với thời gian thích hợp 15-20 phút mỗi ngày vào sáng hoặc chiều muộn.
Phòng bệnh đặc biệt bằng vitamin D với liều theo chỉ dẫn của bác sĩ.
Thiếu ánh nắng mặt trời: đây là nguyên nhân hay gặp nhất do thói quen kiêng cữ, sợ trẻ tiếp xúc nắng sớm sẽ hay bị ốm. Điều này rất đáng buồn vì nước ta là nước nhiệt đới, hầu như quanh năm ánh sáng thừa thãi vậy mà tỷ lệ còi xương vẫn cao chỉ vì thiếu hiểu biết không cho con trẻ phơi nắng.

Các bà mẹ cần lưu ý trẻ 2 tuần tuổi đã cần được tắm nắng: tốt nhất là vào buổi sáng sớm (trước 8 giờ) nếu không có thời gian thì buổi chiều muộn. Trung bình yêu cầu 2 tiếng/tuần hay 10-15 phút/ngày tùy vào khả năng của trẻ và mức độ phát triển xương vận động (nếu trẻ ít ốm hoặc trẻ có biểu hiện của chớm còi xương có thể tắm nắng lâu hơn).

Sai lầm trong chế độ ăn dặm của trẻ: ăn sữa bò ở trẻ dưới 1 tuổi: là lứa tuổi nhu cầu vitamin D đang rất cao và nguồn dự trữ canxi hay thiếu hụt ở trẻ đẻ nhẹ cân, đẻ non, vì vậy ở những trẻ này rất thiếu vitamin D dẫn đến còi xương. Hoặc những trẻ ăn quá nhiều chất bột, đạm (thịt) gây tình trạng toan chuyển hóa - tăng đào thải canxi ra nước tiểu. Hoặc do trong chế độ ăn dặm hằng ngày không cho hoặc cho quá ít dầu/mỡ dẫn đến không có dung môi hòa tan để hấp thu được vitamin D.

Các yếu tố thuận lợi khác: tuổi (càng nhỏ càng dễ bị còi xương), đẻ non, suy dinh dưỡng bào thai, bệnh nhiễm khuẩn, trẻ rối loạn tiêu hóa kéo dài.

Chẩn đoán

Dựa vào các triệu chứng lâm sàng và cận lâm sàng.

Triệu chứng lâm sàng:

Các biểu hiện ở hệ thần kinh:

Trẻ ra mồ hôi nhiều kể cả ban đêm (mồ hôi trộm); Trẻ kích thích khó ngủ, hay giật mình; Rụng tóc gáy (do trẻ ra mồ hôi nhiều); Đối với CX cấp có thể gặp: tiếng thở rít thanh quản, cơn khóc lặng, hay nôn, nấc khi ăn. Có thể co giật do hạ canxi máu; Trẻ chậm phát triển vận động: chậm biết lẫy, chậm biết bò.

Các biểu hiện ở xương:

Thóp chậm liền, bờ thóp mềm, bướu trán, bướu đỉnh; Chậm mọc răng, răng hay bị sâu, răng mọc lộn xộn; Lồng ngực hình gà, chuỗi hạt sườn; Vòng cổ chân, vòng cổ tay, xương chi cong.

Toàn thân: nếu không được điều trị, trẻ chán ăn, suy dinh dưỡng, da xanh thiếu máu, lách to.

Xét nghiệm cận lâm sàng:

Phosphatase kiềm tăng (bình thường 40-140UI/l). Phosphatase kiềm về bình thường khi còi xương điều trị khỏi.

Canxi máu: bình thường hoặc giảm (hay gặp trong CX cấp, nếu canxi ion giảm dưới 0,75mmol/l có thể gây co giật).

Phospho máu: giảm nhẹ.

25 (OH) cholecalciferol giảm dưới 25nmol/l (bình thường 25-105nmol/l).

XQ xương:

Xương chi: Xương mất chất vôi. Đầu xương to bè. Đường cốt hóa nham nhở, lõm. Điểm cốt hóa chậm.

Xương lồng ngực: có hình nút chai.

Điều trị: Nên theo đơn thuốc điều trị của bác sĩ chuyên khoa, vì vitamin D rất dễ bị quá liều gây ngộ độc thần kinh nguy hiểm cho trẻ.

Điều trị bằng vitamin D: ergocalciferol, cholecalciferol kéo dài từ 4-6 tuần (đặc biệt có bệnh cấp tính hoặc nhiễm khuẩn). Sterogyl (ergocalciferol tan trong cồn) 1 giọt chứa 400UI vitamin D. Infadin (ergocalciferol tan trong dầu) 1 giọt chứa 800UI vitamin D. Vitamin D 200.000UI 1 liều duy nhất. Dùng theo chỉ định của bác sĩ.

Điều trị phối hợp: uống thêm các loại vitamin, muối canxi.

Nếu có co giật do thiếu canxi: calcium gluconat truyền tĩnh mạch.




Bác sỹ Phan Bích Nga (Phó giám đốc trung tâm khám dinh dưỡng - viện Dinh dưỡng)

Nhãn:

19 thg 10, 2009

Dinh Dưỡng cho bé - 10 món cháo dành cho bé


Hãy đổi bữa cho bé hàng ngày với một thực đơn phong phú, chắc chắn bé yêu nhà bạn sẽ có hứng thú ăn và trở nên khỏe xinh bụ bẫm.

Cháo sữa

Nguyên liệu: Gạo 50g, nước 4 bát, sữa bột 3 thìa.

Cách làm: Gạo rửa sạch, ngâm 1 tiếng, bỏ vào nấu thành cháo. Cho sữa bột vào đảo đều, đun trong ít phút là được.

Cháo trứng gà

Nguyên liệu: Trứng gà 1 quả, gạo 50 g, nước 4 bát.

Cách làm: Rửa sạch gạo, ngâm trong khoảng 1 tiếng, cho nấu thành cháo. Trứng gà đập thẳng vào cháo, nguấy đều 2-3 phút (bé dưới 1 tuổi tách bỏ lòng trắng, chỉ cho ăn lòng đỏ). Nêm 1 thìa nước mắm, dầu ăn.

Cháo thịt băm rau xanh

Nguyên liệu:Gạo 50g, rau xanh 20g, thịt nạc ( thịt lợn hoặc thịt lườn gà) 20g, nước dùng 4 bát.

Cách làm: Gạo rửa sạch, ngâm khoảng 1 tiếng, nấu với nước dùng thành cháo. Rau rửa sạch, băm nhỏ. Thịt nạc chia miếng mỏng, cho một ít muối, luộc trong 10 phút, sau đó đem băm nhỏ. Bỏ thịt và rau vào nồi cháo đảo đều trong ít phút.

Cháo bát bảo

Nguyên liệu: Lạc sống 10g, đậu tương 10g, hạt ý dĩ 50g, đậu đỏ 10g, gạo nếp 10g, táo ta 10g, hạt sen 10g, long nhãn 10g, đường vừa đủ, 10 bát nước.

Cách làm: Cho lạc, đậu tương, ý dĩ, đậu đỏ rửa sạch ngâm trong nước khoảng 5 tiếng. Cho 10 bát nước, gạo nếp và táo ta nấu trong 25 phút. Sau cùng cho long nhãn đun thêm 20 phút. Nêm đường vừa ăn.

Cháo hải sản

Nguyên liệu: Gạo 50g, thịt tôm 20g, một ít cần tây xay nhỏ, nước dùng 4 bát.

Cách làm: Gạo rửa sạch, cho nước xương đun nhỏ lửa thành cháo. Đem thịt tôm hấp chín, thái hạt lựu, cho vào cháo, nêm ít muối, đun thêm 5 phút, cuối cùng cho rau cần đảo đều.

Cháo phô mai

Nguyên liệu: Hành tây 10g, gạo 50g, nước 4 bát, phô mai 5g.

Cách làm: Hành tây rửa sạch thái khúc nhỏ đem xào chín. Đun sôi nước cho gạo nấu thành cháo. Cho hành tây, phô mai đun đến khi phô mai tan đều là được.

Cháo cà rốt gan gà

Nguyên liệu: Gan gà, cà rốt 10g, gạo 50g, nước dùng 4 bát, ít muối.

Cách làm: Cho gạo vào nước dùng đun nhỏ lửa nấu thành cháo. Rửa sạch gan gà và cà rốt, hấp chín giã nhuyễn, cho vào cháo, nêm vừa muối, đảo đều là được.

Nhãn:

15 thg 10, 2009

3 hỗn hợp củ, quả cho bé 6-12 tháng tuổi

Hỗn hợp quả bơ, dưa chuột hoặc bộ ba loại củ là carrot, củ cải và khoai lang… phù hợp với bé từ 6 tháng đến 1 tuổi.

1. Hỗn hợp khoai lang - carrot - củ cải

Nguyên liệu: Một miếng khoai lang gọt vỏ; một miếng carrot gọt vỏ, cắt khúc dài; một miếng củ cải gọt vỏ, cắt khúc dài.

Thực hiện: Cho 3 loại củ trên vào nồi, hấp khoảng 20 phút, đến khi chín mềm. Trong quá trình hấp, có thể rưới lên hỗn hợp chút nước lọc (hoặc nước xốt) để phần thịt của củ nhanh mềm hơn. Cuối cùng, xếp 3 loại củ ra một chiếc bát, chờ nguội và cho bé ăn bốc.

Cách 2: Xay nhuyễn 3 loại củ bằng máy xay sinh tố. Thêm ít nước lọc hoặc sữa công thức (loại bé đang dùng), nếu cần.

Lưu ý: Khoai lang chứa hàm lượng vitamin C khá cao. Ngoài ra, khoai lang cũng dồi dào beta caroten hơn khoai tây.

2. Hỗn hợp quả bơ và dưa chuột

Nguyên liệu: ¼ quả dưa chuột; ½ quả bơ cỡ nhỏ.

Thực hiện: Dưa chuột gọt vỏ, bổ dọc thành hai phần. Dùng thìa nạo bỏ phần hạt dưa; sau đó, cắt thành khoanh nhỏ.

- Quả bơ được bỏ hạt, khoét lấy phần thịt.

- Cho hỗn hợp quả bơ và dưa chuột vào máy xay rồi để bé thưởng thức.

3. Hỗn hợp quả bơ, chuối và sữa chua

Nguyên liệu: ½ quả chuối chín; ½ quả bơ chín; 2 thìa sữa chua.

Thực hiện: Dùng thìa dầm nhuyễn phần thịt bơ và phần thịt của quả chuối chín. Thêm sữa chua, đảo đều hỗn hợp rồi cho bé thưởng thức.

Nhãn: